Thành lập công ty với số vốn nhỏ được không? Quy định pháp luật cần biết
Mục lục
Thành lập công ty với số vốn nhỏ là nhu cầu phổ biến của cá nhân, nhóm khởi nghiệp và doanh nghiệp mới bắt đầu hoạt động kinh doanh. Nhiều người cho rằng muốn thành lập công ty phải có số vốn lớn hoặc phải chứng minh ngay một khoản tiền tương ứng với vốn điều lệ khi đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, pháp luật doanh nghiệp hiện hành không quy định một mức vốn tối thiểu chung áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp. Vậy có thể thành lập công ty với số vốn nhỏ hay không? Vốn điều lệ nên đăng ký bao nhiêu? Có nên đăng ký vốn điều lệ quá thấp để giảm chi phí hay không? Bài viết dưới đây phân tích các vấn đề pháp lý quan trọng liên quan đến việc thành lập công ty với nguồn vốn ban đầu hạn chế.
1. Có thể thành lập công ty với số vốn nhỏ không?
Đối với phần lớn ngành, nghề kinh doanh thông thường, pháp luật không ấn định một mức vốn điều lệ tối thiểu chung khi thành lập doanh nghiệp. Người thành lập doanh nghiệp có thể chủ động xác định mức vốn điều lệ phù hợp với khả năng tài chính và nhu cầu hoạt động thực tế.
Do đó, một người có nguồn vốn hạn chế vẫn có thể thành lập công ty hợp pháp. Việc vốn ban đầu nhỏ không phải là lý do để cơ quan đăng ký kinh doanh từ chối đăng ký doanh nghiệp nếu doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định pháp luật.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa quyền tự xác định vốn điều lệ với những trường hợp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật có quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu (như: ngân hàng, chứng khoán, bất động sản, đào tạo…). Trong những trường hợp này, doanh nghiệp không thể tự lựa chọn mức vốn thấp hơn điều kiện pháp luật quy định.
Do đó, trước khi quyết định số vốn điều lệ, người thành lập doanh nghiệp cần kiểm tra:
- Ngành nghề dự kiến kinh doanh có phải là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hay không;
- Pháp luật chuyên ngành có yêu cầu mức vốn tối thiểu hay không;
- Có yêu cầu ký quỹ hoặc chứng minh năng lực tài chính hay không;
- Điều kiện về vốn có phải được đáp ứng trước khi doanh nghiệp chính thức hoạt động hay không.
2. Vốn điều lệ là gì và có phải nộp ngay khi thành lập công ty?
Vốn điều lệ có thể hiểu là tổng giá trị tài sản do chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông cam kết góp hoặc đã góp vào doanh nghiệp theo quy định pháp luật tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp.
Đối với công ty mới thành lập, pháp luật quy định nghĩa vụ góp vốn trong thời hạn luật định. Vì vậy, người thành lập doanh nghiệp không nên hiểu rằng chỉ cần đăng ký một con số về vốn điều lệ mà không cần thực hiện nghĩa vụ góp vốn.
Việc lựa chọn mức vốn điều lệ cần dựa trên khả năng góp vốn thực tế. Nếu đăng ký vốn điều lệ quá cao nhưng không có khả năng góp đủ vốn theo quy định, doanh nghiệp có thể phải thực hiện thủ tục điều chỉnh vốn điều lệ và xử lý các vấn đề pháp lý liên quan.
Do đó, đối với người muốn thành lập công ty với số vốn nhỏ, nguyên tắc quan trọng là: Nên đăng ký mức vốn phù hợp với khả năng tài chính thực tế và kế hoạch kinh doanh, thay vì đăng ký mức vốn quá cao chỉ để tạo hình ảnh về quy mô doanh nghiệp.
3. Thành lập công ty với số vốn nhỏ nên lựa chọn loại hình doanh nghiệp nào? Quy định về việc góp vốn ra sao?
Việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào số vốn mà còn liên quan đến số lượng người cùng góp vốn, phương thức quản lý và mức độ chịu trách nhiệm về tài sản.

3.1. Công ty TNHH một thành viên
Đây là lựa chọn phù hợp trong trường hợp chỉ có một cá nhân hoặc một tổ chức làm chủ sở hữu doanh nghiệp. Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty theo quy định pháp luật. Đối với người khởi nghiệp với số vốn nhỏ và muốn hạn chế rủi ro đối với tài sản cá nhân, đây thường là loại hình được nhiều người cân nhắc.
Việc góp vốn thành lập công ty TNHH một thành viên được quy định cụ thể tại Điều 75 Luật Doanh nghiệp, như sau:
1. Vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khi đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị tài sản do chủ sở hữu công ty cam kết góp và ghi trong Điều lệ công ty.
2. Chủ sở hữu công ty phải góp vốn cho công ty đủ và đúng loại tài sản đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không kể thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản. Trong thời hạn này, chủ sở hữu công ty có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với phần vốn góp đã cam kết.
3. Trường hợp không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, chủ sở hữu công ty phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ bằng giá trị số vốn đã góp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ. Trường hợp này, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày cuối cùng công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ theo quy định tại khoản này.
4. Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ theo quy định tại Điều này.
3.2. Công ty TNHH hai thành viên trở lên
Loại hình này phù hợp khi có từ hai người trở lên cùng góp vốn và muốn thành lập doanh nghiệp với quy mô vốn ban đầu không quá lớn. Các thành viên góp vốn và chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp vào công ty theo quy định của pháp luật. Đây có thể là lựa chọn phù hợp đối với nhóm bạn bè, người thân hoặc các đối tác cùng khởi nghiệp.
Được quy định cụ thể tại Điều 47 Luật Doanh nghiệp về việc góp vốn thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên như sau:
1. Vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên khi đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị phần vốn góp của các thành viên cam kết góp và ghi trong Điều lệ công ty.
2. Thành viên phải góp vốn cho công ty đủ và đúng loại tài sản đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không kể thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản. Trong thời hạn này, thành viên có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết. Thành viên công ty chỉ được góp vốn cho công ty bằng loại tài sản khác với tài sản đã cam kết nếu được sự tán thành của trên 50% số thành viên còn lại.
3. Sau thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà vẫn có thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ phần vốn góp đã cam kết thì được xử lý như sau:
a) Thành viên chưa góp vốn theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty;
b) Thành viên chưa góp đủ phần vốn góp đã cam kết có các quyền tương ứng với phần vốn góp đã góp;
c) Phần vốn góp chưa góp của các thành viên được chào bán theo nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên.
4. Trường hợp có thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, công ty phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên bằng số vốn đã góp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ phần vốn góp theo quy định tại khoản 2 Điều này. Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp của thành viên.
…
3.3. Công ty cổ phần
Công ty cổ phần phù hợp hơn khi doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn từ nhiều người hoặc có định hướng mở rộng quy mô và phát triển hoạt động huy động vốn trong tương lai.
Mặc dù có thể thành lập với nguồn vốn ban đầu không quá lớn nếu ngành nghề không yêu cầu mức vốn tối thiểu, nhưng cơ cấu tổ chức và quản trị của công ty cổ phần thường phức tạp hơn so với công ty TNHH.
Vốn của công ty cổ phần được quy định cụ thể tại Điều 112 Luật doanh nghiệp như sau:
1. Vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng mệnh giá cổ phần các loại đã bán. Vốn điều lệ của công ty cổ phần khi đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.
2. Cổ phần đã bán là cổ phần được quyền chào bán đã được các cổ đông thanh toán đủ cho công ty. Khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, cổ phần đã bán là tổng số cổ phần các loại đã được đăng ký mua.
3. Cổ phần được quyền chào bán của công ty cổ phần là tổng số cổ phần các loại mà Đại hội đồng cổ đông quyết định sẽ chào bán để huy động vốn. Số cổ phần được quyền chào bán của công ty cổ phần khi đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng số cổ phần các loại mà công ty sẽ chào bán để huy động vốn, bao gồm cổ phần đã được đăng ký mua và cổ phần chưa được đăng ký mua.
4. Cổ phần chưa bán là cổ phần được quyền chào bán và chưa được thanh toán cho công ty. Khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, cổ phần chưa bán là tổng số cổ phần các loại chưa được đăng ký mua.
5. Công ty có thể giảm vốn điều lệ trong trường hợp sau đây:
a)Theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, công ty hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty nếu công ty đã hoạt động kinh doanh từ 02 năm trở lên kể từ ngày đăng ký thành lập doanh nghiệp không kể thời gian đăng ký tạm ngừng kinh doanh và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho cổ đông;
b) Công ty mua lại cổ phần đã bán theo quy định tại Điều 132 và Điều 133 của Luật này;
c) Vốn điều lệ không được các cổ đông thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo quy định tại Điều 113 của Luật này;
d) Công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu, điều kiện được ghi tại cổ phiếu cho cổ đông sở hữu cổ phần có quyền ưu đãi hoàn lại theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
3.4. Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ và chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, mặc dù thủ tục và cơ cấu quản lý có thể đơn giản, người có số vốn nhỏ cần cân nhắc kỹ rủi ro tài sản khi lựa chọn mô hình này.
Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân được quy định tại Điều 189 Luật Doanh nghiệp như sau:
1. Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản.
2. Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
3. Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tăng hoặc giảm vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán. Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh.

4. Có nên đăng ký vốn điều lệ quá thấp?
Pháp luật không yêu cầu doanh nghiệp thông thường phải đăng ký vốn điều lệ ở mức cao. Tuy nhiên, đăng ký vốn quá thấp cũng có thể gây ra một số hạn chế trong quá trình hoạt động.
- Thứ nhất, vốn điều lệ có thể ảnh hưởng đến khả năng thực hiện kế hoạch kinh doanh thực tế. Nếu doanh nghiệp dự kiến thuê mặt bằng, nhập hàng hóa, ký kết hợp đồng lớn hoặc sử dụng nhiều lao động nhưng vốn đăng ký quá thấp, mức vốn điều lệ có thể không phản ánh tương xứng với quy mô hoạt động.
- Thứ hai, đối tác và khách hàng có thể tham khảo thông tin doanh nghiệp khi đánh giá năng lực hợp tác. Mặc dù vốn điều lệ không phải là yếu tố duy nhất quyết định năng lực tài chính của doanh nghiệp, việc đăng ký mức vốn phù hợp vẫn có thể tạo sự thuận lợi nhất định trong giao dịch.
- Thứ ba, doanh nghiệp cần tính toán nghĩa vụ tài chính liên quan đến hoạt động kinh doanh thay vì chỉ quan tâm đến việc giảm số vốn đăng ký.
Do đó, giải pháp phù hợp không phải là đăng ký mức vốn thấp nhất có thể, mà là lựa chọn mức vốn hợp lý, phù hợp với quy mô kinh doanh và khả năng góp vốn thực tế.